TTO - Ngày 22-8, tại quân cảng Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa), Bộ tư lệnh Quân chủng hải quân Việt Nam đã tiếp nhận tàu hộ vệ tên lửa Gepard 3.9, được đặt tên là tàu HQ-012 (tàu Lý Thái Tổ).
Đây là tàu do Công ty Roso Bopone Xport (Liên bang Nga) sản xuất, có chiều dài 102m, rộng 13,7m, lượng giãn nước 2.100 tấn, có thể hoạt động trong điều kiện gió cấp 10-12; trên tàu được trang bị các vũ khí phòng vệ lẫn tấn công.
Phát biểu tại lễ tiếp nhận tàu Lý Thái Tổ, phó đô đốc Nguyễn Văn Hiến - thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Quân chủng hải quân - cho biết tàu Lý Thái Tổ là loại tàu hiện đại nhất hiện nay trong lực lượng tàu mặt nước của hải quân nhân dân Việt Nam và trong khu vực.
Được biết trước đó, vào tháng 3-2011, một chiếc tàu tương tự là tàu HQ-011 (tàu Đinh Tiên Hoàng) đã được hải quân Việt Nam tiếp nhận và đưa vào hoạt động.
Phó đô đốc Nguyễn Văn Hiến nhấn mạnh: “Việc tăng cường sức mạnh quân sự phù hợp với mỗi bước phát triển của kinh tế và yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh đã và đang là một thực tế khách quan hiện nay và cũng hết sức bình thường của mỗi quốc gia, dân tộc.
Chúng ta chủ trương đầu tư các trang bị quân sự hiện đại, từng bước thay thế các trang bị thế hệ cũ, lạc hậu theo lộ trình gắn kết với sự phát triển và khả năng đảm bảo của nền kinh tế đất nước là một tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế hiện nay”.
Chiến hạm Gepard 3.9 "Đinh Tiên Hoàng” có khả năng tàng hình, tìm kiếm, theo dõi và tiêu diệt các mục tiêu trên không, trên biển và chống ngầm, đồng thời có thể tích hợp hàng loạt các loại vũ khí hiện đại khác.
Chính thức cập cảng Cam Ranh ngày 5/3/2011, chiến hạm "Đinh Tiên Hoàng” lớp Projekt 11661E Gepard 3.9 do nhà máy đóng tàu A.M Gorky ở Zelenodolsk của Nga đóng theo hợp đồng đã kí kết với Hải quân Việt Nam vào tháng 12/2006.
Tầu tuần biển Đinh Tiên Hoàng
Vào những năm đầu của thập niên 1980 x- Lực lượng hải quân Nga có yêu cầu thế hệ tầu tuần biển mới phục vụ cho nhiệm vụ quản lý biển và khu vực bờ biển. Đấy cũng là yêu cầu làm thay đổi thiết kế mẫu tầu tuần biển tên lửa frigate Nheustrasim dự án 11540 trong việc ra quyết định cuối cùng để giải quyết các nhiệm vụ trên biển, với mô hình tầu khu trục biển nhằm thay thế cho các tầu khu trục nhẹ dự án 1135 ( Burevetnhik). Đồng thời cùng với nhiệm vụ đó, Trung tâm thiết kế tầu tại nước cộng hòa Tatarstan đã thiết kế loại tầu tuần biển nhỏ hơn mang tên lửa, đó là Dự án 11660 Gepard. Nhà thiết kế chính là Iu.A. Nhicol, sau đó là V.N.Kaskin nhằm thiết kế tầu tuần biển có khả năng chống ngầm và đánh chặn tầu nổi theo dự án 1124.
Sơ đồ khối tầu tuần biển
Yêu cầu của Hải quân Liên bang và hạm đội là lắp đặt trên tầu một đài quét sonar công suất lớn, có khả năng thực hiện nhiệm vụ chống ngầm hiệu quả, đồng thời tăng lượng giãn nước của tầu lên đến hơn 2000 tấn bằng việc tăng các khoang chống thấm nước trên thân tầu. Thời điểm đó xuất hiện một dự án cạnh tranh là dự án 12441 của "Trung tâm thiết kế tầu biển Almaz” với các tên lửa chống tầu mạnh và khả năng mang theo máy bay trực thăng tuần biển và cứu hộ. Cuối năm 1988 Almaz đưa ra dự án tầu SKP 11660, nhưng được một thời gian, chương trình đóng loại tầu này đã khép lại do lý do tài chính.
Model tầu Gepard 3.9
Kết quả là Trung tâm thiết kế tầu PKB Zeliondonsk đã thiết kế một số mẫu nâng cấp tầu tuần biển tên lửa, trong đó có những mẫu dành cho xuất khẩu-dự án 1166.1 Gepard. Trên cơ sở các thiết kế đã có trung tâm PKB tiền hành xây dựng mẫu tầu Gerpad 3.9 tại nhà máy đóng tầu Zeliondonsk mang tên Gorki. Chiếc tầu đầu tiên của họ Gepard được bắt đầu vào năm 1993 tại nhà máy và đến năm 1995 tầu đã sẵn sàng đưa vào thử nghiệm, nhưng do lý do tài chính, quá trình đóng tầu bị tạm dừng từ 1994 đến 1996. Năm 2001 tầu họ Gepard mang tên Tatarstan được biên chế vào hạm đội và trở thành tầu chỉ huy của hải đội biển Caspian, chiếc tầu thứ 2 của dự án 1166.1 Dagestan được hạ thủy vào năm 2007. Giai đoạn này, 2 chiếc tầu tiếp theo của mẫu tầu tuần biển Gepard 3.9 được đóng theo đơn đặt hàng của Hải quân Việt nam từ 2009 đến 2011.
Sơ đồ thiết kế Tatarstan
Mục đích yêu cầu nhiệm vụ
Tầu tuần biển loại Gepard 3.9 lớp Tatarstan dự án 11661 được thiết kế thực hiện các nhiệm vụ chống tầu ngầm, tầu nổi và các mục tiêu trên không của đich khi thực hiện các nhiệm vụ hộ tống các tầu chiến, các tầu vận tải, các đoàn tầu cơ động, tiến hành các nhiệm vụ cảnh giới biển, bảo vệ hải giới và thềm lục địa, bảo vệ các khu vực kinh tế biển và bảo vể các khu vực biển gần. Vũ khí trang bị và phương tiện kỹ thuật của tầu cho phép thực hiện các nhiệm vụ được giao với hiệu quả cao nhất. Đồng thời, các thiết kế kỹ thuật phải cho phép tầu có khả năng nâng cấp và cải tiến trên cơ sở thân tầu.
Thông số kỹ chiến thuật
Thiết kế của tầu được thực hiện với các mặt phẳng truyền thống với 12 khoang không thấm nước, khả năng tầu vẫn hoạt động tốt nếu có 3 khoang bị trúng đạn tách rời nhau, các thiết kế trên boong tầu được chế tạo từ vật liệu tổng hợp nhôm ma-gie có khả năng hấp thụ đến tối thiểu mức phản xạ hiệu dụng của sóng radar ( công nghệ stealth) tầu được lắp động cơ nguồn diezen và 2 động cơ gaz tuốc bin 2 trục cho công suất tâu lên đến 29000 mã lực. hệ thống động lực kiểu CODOG bao gồm động cơ diezen loại 61D ( 8000 mã lực) đảm bảo cho tầu chạy ở tốc độ hành trình 18 hải lý/giờ, 2 động cơ tuocbin khí gas có thể đẩy vận tốc tối đa của tầu lên đến 28 hải lý/giờ. Có 3 máy phát điện diezen 600 kVh cho mỗi máy phát.
Hệ thống động lực thân tầu
Mô hình động cơ đẩy
Để tăng cường khả năng cơ động và tác chiến độc lập của tầu trên biển, các nhà thiết kế đã tăng cường khả năng hải trình của tầu từ 9 ngày ( không phải bổ xung nhiên liêu và cơ sở vật chất) lên đến 20 ngày và tầm hoạt động với tốc độ hải trình 18 hải lý/giờ là từ 2500 hải lý lên 3500 hải lý. Tầu được tranh bị hệ thống tên lửa chống tầu thế hệ mới nhất XЗ5 3M24 Uran, tăng cường khả năng tác chiến của tầu so với các loại tầu tuần biển khác. hệ thống sonar MGK-335EM-03 có góc quét 260 độ, phát hiện được tàu ngầm ở bán kính từ 10 đến 12 km và thủy lôi ở cự ly 2 km và 2 thiết bị phóng ngư lôi cỡ nòng 533 mm.
Vũ khí trang bị
Tên lửa đối hạm
• 4x4 ống phóng tên lửa đối hạm Uran-E Kh-35 (16 quả 3M24, tầm bắn 130km)
Thông số kỹ chiến thuật
Tầm hoạt động của tên lửa km | 5-130 |
Tầm cao cơ động/tầm cao tấn công, m | 5-10/3-5 |
Tốc độ tên lửa hành trình, m/s | до 300 |
Góc mở cơ động của tên lửa, độ. | + 90 |
Độ chính xác dẫn bắn (КВО), m | 4-8 |
Tải trọng cất cánh (với động cơ tăng tải), kg | 480 (680) |
Khối lượng đầu đạn, kg | 145 |
Chiều dài tên lửa (có động cơ tăng tốc), m | 3,75 (4,4) |
Đường kính tên lửa, m | до 0,42 |
Sải cánh, m | 0,93 |
Tầm quét của radar tự dẫn РГС, km | 20 |
Dải nhiệt độ hoạt động của tên lửa, độ. | -50 - +50 |
Radar tự dẫn đầu đạn tên lửa chống hạm
Tên lửa chống tầu
Pháo hạm
• 1 pháo chính 76.2mm AK-176M
• Hệ thống pháo/tên lửa phòng không Palma, tầm bắn tối đa với tên lửa 8,000m, đối với pháo là 4,000m, được điều khiển bằng quang-điện và hỗ trợ dữ liệu từ radar.
• 2 súng máy phòng không 14.5mm
2 ống phóng kép cho ngư lôi 533mm
• Hệ thống phóng bom ngầm RBU-6000 với 12 ống
• Hệ thống kiểm soát hỏa lực chống ngầm Purga
Hệ thống kiểm soát hỏa lực và trinh sát mục tiêu:
• Radar Laska có khả năng vừa sục sạo vừa bám các mục tiêu từ khoảng cách tới 30km, dùng để điều khiển pháo các cỡ từ 30 tới 76mm nhằm tiêu diệt các mục tiêu như máy bay, tên lửa và tàu nổi cỡ nhỏ. Nó được tích hợp với các kênh quang truyền hình và quang hồng ngoại.
• Hệ thống SP-521 Rakurs radar – sonar điều khiển tầu
Trực thăng
• Ka-28 ASW chống ngầm (hoặc Ka-31 mang radar chuyên nhiệm cảnh báo sớm) có hangar (khoang chứa) và bãi đậu.
Hệ thống tác chiến điện tử
• Hệ thống MP-407E ECM system
• Hệ thống mồi bẫy PK-10 (4x10 ống phóng)
Thiết bị định vị
• Hệ thống định vị Gorizont-257 kết hợp cùng radar Gorizont-25
• Hệ thống EKNIS MK-54IS và GPS NT200D
Hệ thống quản lý thông tin tác chiến
• Hệ thống Sigma-E
Hệ thống nhận dạng mục tiêu
• Thiết bị 67R IFF
Thông tin liên lạc
• Hệ thống thông tin liên lạc tự động Buran-6VE
Thiết bị điện tử - radar
Radar mảng pha 3 chiều trinh sát mục tiêu trên không và trên biển Pozitiv-ME1 tầm trinh sát tối đa 150km trong điều kiện biển động cấp 3; có thể phát hiện mục tiêu bay có diện tích phản xạ radar 1m2 bay ở độ cao 1000m từ khoảng cách 110km; có thể phát hiện mục tiêu là tên lửa đối hạm có diện tích phản xạ radar 0,03m2 bay ở độ cao 15m từ khoảng cách 15km. Có thể bám cùng lúc 3-5 mục tiêu. Có thể phát hiện mục tiêu là tàu nổi có diện tích 10,000m2 từ ngoài đường chân trời.
Lượng rãn nước đầy tải: 2,100 tấn
Kích thước ngoài (dài x rộng x mớn nước): 102.2 x 13.1 x 5.3m
Tốc độ tối đa: 28 hải lý/h, tốc độ hành trình: 18 hải lý/giờ
Tầm hoạt động ở tốc độ hải trình tuần biển: 5,000 hải lý
Dự trữ nhiên liệu hoạt động: 20 ngày
Sử dụng vũ khí không hạn chế trong điều kiện biển động tới cấp 5
Động cơ chính: 2x11,000hp
Thủy thủ đoàn: 103 người với 16 vị trí dự trữ dành cho hải quân đặc nhiệm
Sưu Tầm
(Phunutoday) - Hôm qua trên trang mili.cn.yahoo.com của Trung Quốc có đăng ảnh và giới thiệu về các loại tàu chiến Hải quân Nhân dân Việt Nam. Tờ báo này có đưa ra ít nhất là 6 loại tàu chiến chủ yếu có trong biên chế của Hải quân Nhân dân Việt Nam.
Dưới đây là phần trích của bài viết:
Hiện nay Hải quân Việt Nam có khoảng 50 chiến hạm lớn nhỏ các loại, đa số các chiến hạm này có xuất xứ từ Liên Xô cũ và một phần là do chế độ cũ bỏ lại khi chiến tranh kết thúc. Các loại tàu chiến và chiến hạm này có thể chia ít nhất làm 5 loại cụ thể như sau:
1.Chiến hạm lớp Petya II – III
2.Tàu hỏa tiễn cỡ nhỏ lớp BPS 500
3. Tàu tên lửa Tarantul I
4. Tàu tên lửa lớp Osa-II
5. Tàu phóng lôi lớp Turya
6. Khu trục hạm Gepard
Trên đây là 6 chủng loại chiến hạm chủ yếu, bên cạnh đó Hải quân Việt Nam còn hàng nghìn các loại tàu chiến, canô, phương tiện chiến đấu khác nữa. Trong số 6 chủng loại tàu chiến chủ yếu của Việt Nam thì 2 chiếc chiến hạm lớp Gepard 3.9 Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ có thể coi là hiện đại nhất mà Việt Nam đang sở hữu. Nhưng tờ báo này cũng cho biết: Việt Nam là đất nước có vùng biển rộng lớn nên số lượng tàu chiến và chiến hạm như trên là quá nhỏ bé, bên cạnh đó các chiến hạm đã có thời gian phục vụ quá dài trong quân đội, vì vậy Hải quân Việt Nam cần bổ xung thêm nhiều chiến hạm mới, hiện đại hơn nữa nhằm thích ứng với tình hình chiến tranh hiện đại……
Dưới đây là hình ảnh các chiến hạm của Hải quân Việt Nam trên báo Trung Quốc:
 |
Tàu phóng lôi lớp Turya Độ giãn nước: 250 tấn
Kích thước: 39.6 x 7.6 x 2 mét
Kích thước: 39.6 x 9.6 x 4 mét
Sức đẩy: 3 động cơ diesel, 3 trục, 15,000 bhp, 37 hải lý/ giờ
Thủy thủ đoàn: 26
Sonar: Rat Tail dipping
Vũ khí: 1 tháp pháo gắn súng 2 nòng 57mm/70cal AA, 1 súng 2 nòng 25 mm, 4 ống
phóng ngư lôi 21 inch
Nguồn gốc: Liên Xô sản xuất giao năm 1984.
Nơi sản xuất: Vladivostokskiy Sudostroitel’niy Zavod, Vladivostok, Russia, (ảnh mili.cn.yahoo) |
 |
| Tàu phóng lôi lớp Turya (ảnh mili.cn.yahoo) |
 |
Tàu tuần tiễu lớp Petya-III Độ giãn nước: 1,040 tấn
Kích thước: 81.8 x 9.2 x 2.72 mét
Sức đẩy: 3 trục; 1 cruise diesel, 6,000 bhp; 2 boost gas turbines, 30,000 shp;
29 hải lý/ giờ
Thủy thủ đoàn: 92
Radar: Fut-N/Strut Curve 2-D air search
Sonar: Titan hull mounted MF
EW: Bizan-4B suite with Watch Dog intercept
Vũ khí: 2 tháp pháo với súng 2 nòng 76.2mm, 3 ống phóng ngư lôi 15.8 inch, 4
giàn phóng rócket RBU-6000 ASW RL
Nguồn gốc: tàu tuần tiễu xuất khẩu của Nga, Việt Nam nhận năm 1978. Việt Nam
hiện có 2 chiếc HQ-09, HQ-11. (ảnh mili.cn.yahoo) |
 |
Tàu hỏa tiễn cỡ nhỏ lớp BPS 500 Độ giãn nước: 517 tấn
Kích thước: 62 x 11 x 2.5 mét/203.4 x 36 x 8.2 feet
Sức đẩy: 2 động cơ diesel, 2 waterjets, 19,600 bhp, 32 hải lý/ giờ
Thủy thủ đoàn: 28
Radar: Positiv-E/Cross Dome air/surf search
EW: 2 PK-16 decoy
Vũ khí: 8 hỏa tiễn Kh-35 Uran SSM, 1 đại bác 76.2mm, 1 súng phòng không 30 mm,
2 súng 12.7 mm MG
Nguồn gốc: Nga thiết kế, được đóng tại Việt Nam, (ảnh mili.cn.yahoo) |
 |
| Tàu phóng tên lửa lớp Tarantul I (Molniya) đã có mặt tại Việt Nam vào năm 1999. Và Việt Nam mua bản quyền đóng loại tàu này trong nước. Hiện Việt Nam có khoảng 4 chiếc Tarantul 1, và 2 chiếc Tarantul thế hệ mới thuộc project 1412.8. Trong tương lai sẽ đóng thêm 20 chiếc Tarantul nữa, (ảnh mili.cn.yahoo) |
 |
| Tàu chiến Tarantul dùng để tác chiến tại các vùng cửa biển và ven bờ. Tàu Tarantul trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại và các khí tài tiên tiến, có khả năng độc lập tác chiến và chiến đấu hiệp đồng trong đội hình biên đội. (ảnh mili.cn.yahoo) |
 |
Tên lửa hành trình đối hạm Moskit – SS-N-22 với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 90 – 120 km, tốc độ siêu âm. Tầm bắn tối đa 250km, tốc độ mach 3, trần bay cách mặt nước biển 20m, đầu nổ 320 kg
- Hoặc tên lửa hành trình đối hạm P-15 Termit “SS-N-2C” với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 80 km, tốc độ March 0.9.
- 12 tên lửa phòng không Igla-1M;
- 1 pháo hạm 76mm AK-176M (với 316 viên đạn), tầm xa 15 km
- Hai pháo phòng không 30mm AK-630M. (ảnh mili.cn.yahoo) |
 |
| Theo một số nguồn tin nước ngoài, 2 tàu Tarantul thế hệ mới cũng đã có mặt tại Việt Nam . Đây chính là 2 tàu đầu tiên thuộc Project 1241.8 “Thần Sấm”. Loại này có tầm hoạt động và hệ thống vũ khí tấn công hơn hẳn Tarantul 1. 2 chiếc này nằm trong hợp đồng mua 12 chiếc Taratul Project 1241.8 mà VN đã ký với Nga. Số còn lại sẽ do VN tự đóng theo công nghệ được chuyển giao . (ảnh mili.cn.yahoo) |
 |
| Chiến hạm “Đinh Tiên Hoàng” do nhà máy đóng tàu Zelenodolsk mang tên Gorki của Nga đóng theo hợp đồng đã ký với Hải quân Việt Nam chế tạo 02 tàu chiến quân sự Gepard 3.9 vào tháng 12/2006. (ảnh:Itartass) |
 |
“Đinh Tiên Hoàng” của Việt Nam có thể lắp đặt tổ hợp tấn công Uran với cự ly bắn đến 130km, gồm 2 ống phóng tên lửa có cánh chống hạm loại Kh-35E, Đinh Tiên Hoàng” có thể được trang bị tổ hợp tên lửa phòng không Osa-MA với cơ số tên lửa là 20 quả Vũ khí pháo của tàu gồm tổ hợp pháo AK-176M cỡ nòng 76,2mm (152 quả) và bệ pháo kép tự động AK-630M cỡ nòng 30mm (2000 quả) bảo đảm tiêu diệt các mục tiêu trên không bay thấp. Để chống ngầm trên tàu lắp đặt 2 ngư lôi 533mm trang bị 2 ống phóng, còn để chống ngư lôi tàu trang bị 1 thiết bị thả bom phản lực RBU-6000, trạm thủy âm loại MGK-335. Tàu còn có 1 sân đỗ cho một trực thăng Ка-27, Ka-28, Ка-31 (ảnh mili.cn.yahoo) |
 |
| Tàu Lý Thái Tổ và Đinh Tiên Hoàng là 02 tàu chiến quân sự Gepard 3.9 của Việt Nam đều được Nga giao hàng vào năm nay, (ảnh mili.cn.yahoo) |